Quyết định số 15/2003/QĐ-BTNMT – Quy phạm quan trắc mực nước và nhiệt độ nước sông

Tiêu chí đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc mực nước và nhiệt độ nước sông vùng sông ảnh hưởng của thủy triều

Hiện nay, nước ta có 17 trạm khí tượng hải văn, gồm 11 trạm trên đảo, 5 trạm ven bờ, 1 trạm trên giàn khoan. Với bờ biển dài, chế độ thủy triều phức tạp, hay bị bão và áp thấp nhiệt đới thì mạng lưới trạm khí tượng hải văn của ta hiện nay còn quá ít, phân bố không đều; chưa phản ánh được những biến đổi khá phức tạp của mực nước và thuỷ triều dọc bờ biển Việt Nam; chưa đủ để xác định đúng vị trí và đường bao của nước dâng do bão, nhất là với vùng biển từ Hải Phòng tới Quảng Bình.

Hiện có 9 trạm quan trắc môi trường biển đặt tại các trạm khí tượng hải văn và 167 điểm quan trắc môi trường biển trên khắp các vùng biển Việt Nam bằng tàu nghiên cứu biển định kỳ mỗi năm ít nhất 2 lần

Ngoài trạm khí tượng thủy văn còn có các trạm trạm thủy văn gồm 59 trạm hạng I, 21 trạm hạng II và 151 trạm hạng III (trong đó có 25 trạm quan trắc thủy văn vùng triều đặt tại các cửa song ven biển). Trong tổng số 231 trạm thuỷ văn có 80 trạm phục vụ cho việc tính toán tài nguyên nước mặt. Mật độ trung bình của các trạm thuỷ văn trên chín hệ thống sông chính là 4.140km2/trạm, trên các sông nhỏ là 4.090km2/trạm. Về phân bố, các trạm thuỷ văn chủ yếu nằm trên sông chính và nhánh lớn; các trạm đầu nguồn, các nhánh trung bình và nhỏ đang thiếu, đặc biệt là trong vùng có khả năng xảy ra lũ lớn, lũ quét. Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trạm thuỷ văn tại một số khu vực còn thưa, trong đó trạm đo dòng chảy còn thiếu khá nhiều, đặc biệt trên các sông nhỏ; các chi lưu nơi có lượng nước lớn, ảnh hưởng nhiều đến dòng chảy các sông chính, trên thượng nguồn; trên các sông vừa; vùng cửa sông, nhất là các sông lớn ở Bắc Bộ, Nam Bộ, các sông ở Trung Trung Bộ và Tây Nguyên.

So với chỉ tiêu tối thiểu về mật độ trạm đo dòng chảy của Tổ chức Khí tượng Thế giới, mật độ trạm ở Việt Nam chỉ đạt 26%. Trong đó, khu vực Tây Bắc đạt 8-25%, Việt Bắc đạt 11-33%, vùng núi Đông Bắc đạt 4-14%, vùng còn lại của Đông Bắc đạt 20-60%, đồng bằng Bắc Bộ đạt xấp xỉ 100%, Bắc Trung Bộ đạt 8-25%, Trung Trung Bộ đạt 5-16%, Nam Trung Bộ đạt 7-25%, Tây Nguyên đạt 7-25%, Nam Bộ đạt 12-33%.

Mạng lưới quan trắc môi trường nước mặt gồm 48 trạm giám sát chất lượng nước sông, 9 trạm kiểm soát môi trường nước hồ và 68 điểm quan trắc xâm nhập mặn vùng cửa sông.

ng12

Hình 1: Quan trắc mực nước bằng thủy chí

ng13Hình 2: công trình quan trắc bằng máy tự ghi mực nước

Trên cơ sở hiện trạng công tác đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc thủy văn nói riêng và tài nguyên nước nói chung ở nước ngoài và Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tài liệu quan trắc. Đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng tài liệu quan trắc mực nước như sau:

Tiêu chí 1: Quan trắc mực nước đúng phương pháp – 25 điểm

Tiêu chí 2: Quan trắc mực nước đúng chế độ     – 25 điểm

Tiêu chí 3: Ghi chép đầy đủ các hạng mục ghi trong sổ – 25 điểm

Tiêu chí 4: Kiểm tra kịp thời những nghi vấn, sai sót tại hiện trường, có ghi chú đầy đủ – 25 điểm

Cách tính điểm trừ như sau:

– Nếu đạt tất cả các tiêu chí trên thì đạt điểm tối đa.

+ Mỗi lần vi phạm tiêu chí 1: trừ 2 điểm

+ Mỗi lần vi phạm tiêu chí 2: trừ 2 điểm

+ Mỗi lần vi phạm tiêu chí 3: trừ 2 điểm

+ Mỗi lần vi phạm tiêu chí 4: trừ 1 điểm

Xếp loại tài liệu quan trắc

ng14

Nguồn: Trung tâm quy hoạch và điều tra tài nguyên nước quốc gia

Nội dung quyết định số 15/3003/QĐ-BTNMT: Xem tại đây

Leave a Reply